Khách sạn

Quản lý doanh thu #28: Nhận thức giá trị và truyền thông giá

Trong kinh doanh khách sạn, giá không bao giờ chỉ một con số. Cùng một mức giá, khách hàng cảm thấy hợp lý, khách hàng cho rằng đắt, cũng khách hàng xem đó lựa chọn đáng tiền. Sự khác biệt ấy không nằm hoàn toàn bản thân mức giá, nằm cách khách hàng nhận thức giá trị của sản phẩm cách khách sạn truyền thông giá trị đó ra thị trường. vậy, trong quản doanh thu, hiểu đúng nhận thức giá trị truyền thông giá không chỉ giúp bán phòng hiệu quả hơn còn quyết định khả năng bảo vệ giá, giảm áp lực giảm giá xây dựng mối quan hệ bền vững với khách hàng.

1. Giá trị không chỉ lợi ích, sự so sánh giữa được mất

Trong nền tảng thuyết của sách, giá trị không được xem một khái niệm đơn giản. Giá trị của sản phẩm phản ánh mong muốn của người mua trong việc được sản phẩm đó, nhưng khi nhìn từ góc độ khách hàng, giá trị không thể chỉ được hiểu bằng những lợi ích khách nhận về. Giá trị khách hàng còn phải tính đến những khách hàng phải bỏ ra để được sản phẩm. Chính vậy, khi bàn về nhận thức giá trị, cần xuất phát từ một điểm rất quan trọng: khách hàng luôn thực hiện một phép so sánh.

Phía “được” bao gồm những lợi ích khách hàng kỳ vọng hoặc thực sự nhận được. Phía “mất” không chỉ tiền. Đó còn thể thời gian tìm kiếm, công sức so sánh, rủi ro lựa chọn sai, sự bất tiện trong quá trình đặt phòng, mức độ không chắc chắn về chất lượng dịch vụ, hay cả cảm giác lo ngại rằng số tiền bỏ ra không tương xứng với trải nghiệm nhận về.

Từ góc nhìn đó, giá trị không phải khái niệm tuyệt đối. Một phòng khách sạn không tự thân có “giá trị cao” hay “giá trị thấp”. Giá trị chỉ được hình thành khi khách hàng đặt lợi ích nhận được lên bàn cân với toàn bộ chi phí hữu hình hình họ phải chịu. Đây do sao hai khách hàng khác nhau thể đánh giá cùng một phòng khách sạn theo hai cách hoàn toàn khác nhau. Với người cần vị trí thuận tiện, phòng nhỏ nhưng gần trung tâm thể rất đáng giá. Với người đi nghỉ dưỡng dài ngày, cùng căn phòng ấy thể lại không hấp dẫn.

Điểm cốt lõi đây là: trong quản doanh thu, khách sạn không thể chỉ tập trung vào câu hỏi “Giá phòng bao nhiêu” phải tập trung đồng thời vào câu hỏi “Khách hàng nghĩ họ đang nhận được với mức giá đó”.

2. Bốn lớp giá trị ý nghĩa của chúng trong quyết định mua

Một đóng góp quan trọng của chương này cách phân chia giá trị thành bốn loại dựa trên hai trục: giá trị gộp hay giá trị ròng, giá trị kỳ vọng hay giá trị cảm nhận thực tế.

2.1 Giá trị gộp giá trị ròng

Giá trị gộp phần lợi ích khách hàng nhận được từ việc tiêu dùng sản phẩm, chưa tính đến chi phí để được sản phẩm đó. Trong bối cảnh khách sạn, đây toàn bộ những ích lợi khách hàng mong muốn như nghỉ ngơi, thư giãn, tiện lợi, an toàn, niềm vui, cảm giác được quan tâm, sự khẳng định bản thân, trải nghiệm cùng gia đình, hoặc thậm chí cảm giác hoàn thành một giấc du lịch.

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng giá trị gộp thì chưa đủ để giải thích hành vi mua. Bởi khách hàng không ra quyết định chỉ dựa trên lợi ích. Họ còn nhìn vào chi phí. Từ đó hình thành giá trị ròng, tức giá trị còn lại sau khi đã trừ đi các chi phí để sở hữu sử dụng dịch vụ. Cùng một phòng khách sạn, nếu khách hàng cảm thấy đặt phòng dễ dàng, chính sách ràng, thông tin minh bạch, mức giá hợp ít rủi ro, giá trị ròng sẽ cao hơn. Ngược lại, nếu khách phải mất nhiều thời gian tìm hiểu, không chắc chắn về điều kiện giá, lo ngại chi phí ẩn hoặc cảm thấy dễ bị thiệt, giá trị ròng sẽ giảm mạnh bản thân sản phẩm thể vẫn tốt.

Điều này cho thấy một nguyên tắc rất quan trọng: khách sạn không chỉ tạo giá trị bằng cách tăng lợi ích, còn bằng cách giảm chi phí cảm nhận của khách hàng. Một website ràng, quy trình đặt phòng đơn giản, điều kiện hủy minh bạch hay cách trình bày giá dễ hiểu đều góp phần làm tăng giá trị ròng.

2.2 Giá trị kỳ vọng giá trị cảm nhận thực tế

Trục thứ hai sự khác nhau giữa giá trị khách hàng kỳ vọng trước khi mua giá trị họ thực sự cảm nhận sau khi sử dụng.

Giá trị kỳ vọng những khách hàng tin rằng họ sẽ nhận được. được hình thành trước khi trải nghiệm thật diễn ra. Đây kết quả của hình ảnh thương hiệu, nội dung truyền thông, hình ảnh trên website, tả phòng, nhận xét của khách trước đó, vị trí hiển thị trên kênh phân phối, cách trình bày giá lợi ích, cũng như tổng thể tín hiệu khách sạn gửi ra thị trường.

Giá trị cảm nhận thực tế giá trị khách hàng thật sự nhận được sau khi trải nghiệm. Đây lúc mọi lời hứa được kiểm chứng. Nếu trải nghiệm thực tế thấp hơn kỳ vọng, khách hàng thất vọng. Nếu đúng như kỳ vọng, họ hài lòng. Nếu vượt kỳ vọng, họ thể trở thành khách hàng trung thành hoặc người giới thiệu thương hiệu.

Từ đây thể thấy bản chất của truyền thông giá truyền thông giá trị. Nếu khách sạn truyền thông quá đà, nâng kỳ vọng quá cao nhưng trải nghiệm thật không tương xứng, kết quả không phải doanh thu bền vững sự suy giảm niềm tin. Ngược lại, nếu khách sạn truyền thông nghèo nàn, không làm nổi bật giá trị thật của mình, sản phẩm tốt nhưng khách hàng không nhìn thấy giá trị trước khi mua, khách sạn sẽ tự làm yếu năng lực bán giá của mình.

Do đó, quản doanh thu hiệu quả không phải chỉ đẩy giá lên hay kéo giá xuống. phải bắt đầu từ việc kiểm soát khoảng cách giữa giá trị kỳ vọng giá trị cảm nhận thực tế.

3. Nhận thức giá trị được hình thành từ đâu

Theo logic của sách, lợi ích khách sạn mang lại cho khách hàng thể rất đa dạng. Đó thể nghỉ ngơi, thư giãn, yên tĩnh, tiện lợi, tận hưởng, tiết kiệm, kết nối với người khác, dành thời gian cho gia đình, phiêu lưu, hoàn thành một giấc hay khẳng định cái tôi. Những lợi ích này không tự xuất hiện. Chúng được tạo ra bởi các thuộc tính của sản phẩm khách sạn.

3.1 Thuộc tính hữu hình

Nhóm thuộc tính hữu hình bao gồm vị trí, sở vật chất, tiện nghi phòng, tầm nhìn, thiết kế, màu sắc, mùi hương, cách sử dụng không gian các yếu tố vật chất khác. Đây những tín hiệu dễ thấy dễ truyền thông nhất. Khách hàng thể nhận ra chúng qua hình ảnh, video, tả, đồ trải nghiệm thực tế.

Các thuộc tính hữu hình vai trò rất lớn trong giai đoạn hình thành giá trị kỳ vọng. Trước khi đặt phòng, khách hàng chưa thể trải nghiệm chất lượng phục vụ thật sự, nhưng họ thể đánh giá ảnh phòng, kiến trúc, vị trí, tiện nghi cảm giác tổng thể khách sạn truyền tải. vậy, phần lớn nhận thức giá trị trước mua được xây dựng từ cách khách sạn thể hiện những thuộc tính hữu hình của mình.

3.2 Thuộc tính hình

Bên cạnh đó nhóm thuộc tính hình như tinh thần phục vụ của nhân viên, tính hữu ích, sự thân thiện, tốc độ phản hồi, mức độ nhân hóa, cảm giác an toàn, sự sạch sẽ, bầu không khí. Đây những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến giá trị cảm nhận thực tế. Một căn phòng đẹp thể tạo kỳ vọng tốt, nhưng chính phong cách phục vụ, sự chỉn chu bầu không khí mới quyết định khách thật sự cảm thấy “đáng tiền” hay không.

Điểm đáng chú ý các thuộc tính hình thường khó truyền thông hơn thuộc tính hữu hình, nhưng lại tác động mạnh hơn đến cảm nhận sau mua. vậy, nếu khách sạn chỉ truyền thông hình ảnh đẹp không đầu vào thực chất dịch vụ, nhận thức giá trị ban đầu thể cao nhưng sẽ nhanh chóng sụp đổ sau trải nghiệm thật.

4. Nhận thức giá trị quyết định mức độ chấp nhận giá

Một trong những ý quan trọng nhất cần rút ra từ nền tảng của sách khách hàng không nhìn giá theo nghĩa tuyệt đối. Họ nhìn giá thông qua lăng kính giá trị.

Khi khách hàng thấy rằng lợi ích họ nhận được lớn, giá xu hướng được xem hợp lý. Khi lợi ích cảm nhận thấp, cùng một mức giá sẽ trở nên “đắt”. Điều này giải sao trong thực tế, hai khách sạn cùng khu vực thể bán với hai mức giá khác nhau vẫn cùng tồn tại. Sự khác biệt nằm cách mỗi khách sạn được nhận thức về giá trị.

Từ đây, thể rút ra một logic rất trong revenue management:

Nếu muốn bán giá cao hơn, khách sạn phải nâng nhận thức giá trị lên tương xứng.
Nếu nhận thức giá trị không đủ mạnh, việc tăng giá sẽ nhanh chóng bị thị trường phản kháng.
Nếu nhận thức giá trị mạnh, khách sạn không chỉ giữ được giá còn giảm áp lực cạnh tranh bằng giảm giá.

Điều này cũng giải tại sao sách nhấn mạnh đến “đúng truyền thông” như một phần của định nghĩa quản doanh thu. Không chỉ đúng sản phẩm, đúng khách hàng, đúng giá, đúng thời điểm, còn phải đúng truyền thông. Bởi truyền thông yếu tố trung gian làm cho giá trở nên hợp hay bất hợp trong mắt khách hàng.

5. Truyền thông giá không phải nói về giá, định hình tỷ lệ giá trị trên giá

Khi nói đến truyền thông giá, nhiều doanh nghiệp chỉ nghĩ đến việc công bố mức giá, chương trình giảm giá hay điều kiện bán. Nhưng trên nền tảng của chương 10, truyền thông giá phải được hiểu rộng hơn nhiều. cách khách sạn trình bày thông tin sao cho khách hàng cảm nhận được mối tương quan hợp giữa giá phải trả giá trị nhận được.

Nói cách khác, truyền thông giá không nên bắt đầu bằng câu “Giá bao nhiêu”, nên bắt đầu bằng câu “Khách hàng sẽ thấy đáng để trả tiền”.

Một mức giá chỉ trở nên thuyết phục khi được đặt trong bối cảnh lợi ích, trải nghiệm, tiện ích, sự an tâm tính phù hợp với nhu cầu của phân khúc mục tiêu. Nếu khách sạn chỉ công bố giá không làm những khách nhận được, khách hàng sẽ xu hướng so sánh đơn thuần trên mặt bằng giá cuộc chơi sẽ nhanh chóng trượt về cạnh tranh giá thấp.

Ngược lại, nếu khách sạn biết truyền thông đúng giá trị, khách hàng sẽ đánh giá giá trong một khung tham chiếu khác. Họ không còn chỉ so sánh số tiền bỏ ra, so sánh tổng lợi ích, tổng an tâm tổng trải nghiệm.

6. Cách thông tin được trình bày ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức giá trị

Sách nhấn mạnh rằng cách thông tin được cung cấp trên website khách sạn hay cách giá được trình bày thể ảnh hưởng đến nhận thức của khách hàng về giá trị về tính công bằng của điều kiện giá. Đây điểm ý nghĩa rất thực tiễn.

Khách hàng không chỉ phản ứng với nội dung, còn phản ứng với hình thức trình bày nội dung. Một thông tin đúng nhưng trình bày rối rắm thể làm giảm niềm tin. Một mức giá hợp nhưng điều kiện diễn đạt không thể làm khách hàng cảm thấy rủi ro. Một gói phòng tốt nhưng tả nghèo nàn thể khiến giá trị bị đánh giá thấp.

Từ đó thể rút ra ba nguyên tắc lớn.

6.1 Minh bạch làm tăng giá trị ròng

Khi thông tin giá, điều kiện đặt phòng, chính sách hủy, lợi ích đi kèm sự khác nhau giữa các gói giá được trình bày ràng, khách hàng giảm được chi phí tâm lý. Họ ít phải đoán, ít lo sợ bị thiệt, ít tốn công giải thông tin. Điều đó làm tăng giá trị ròng.

6.2 Cấu trúc trình bày làm tăng hoặc giảm khả năng cảm nhận lợi ích

Cùng một sản phẩm, nếu lợi ích được trình bày theo cách nhấn mạnh trải nghiệm, sự tiện lợi, sự phù hợp với nhu cầu, giá trị cảm nhận sẽ cao hơn. Nếu chỉ liệt kỹ thuật khô cứng, sản phẩm sẽ kém hấp dẫn hơn. Điều này đặc biệt quan trọng với các thuộc tính hình như bầu không khí, mức độ chăm sóc hay sự an tâm.

6.3 Tính công bằng của giá một phần của nhận thức giá trị

Khách hàng không chỉ hỏi “đáng không” còn hỏi “công bằng không”. Nếu họ cảm thấy giá bị trình bày theo cách đánh đố, điều kiện ẩn giấu, hoặc cách định giá làm họ thấy mình bị lợi dụng, mối quan hệ tương lai với khách sạn sẽ bị tổn hại. vậy, truyền thông giá phải đồng thời xây dựng giá trị cảm nhận cảm nhận công bằng.

7. Giá trị kỳ vọng phải được xây dựng đúng mức, không được thổi phồng

Một sai lầm phổ biến trong truyền thông khách sạn đẩy kỳ vọng lên quá cao để tăng đặt phòng trước mắt. Về ngắn hạn, điều này thể tạo ra chuyển đổi. Nhưng về dài hạn, làm hỏng nền tảng giá trị cảm nhận thực tế.

Khi giá trị kỳ vọng cao hơn xa so với giá trị thực tế, khách hàng sẽ không chỉ thất vọng còn xu hướng cảm thấy mình bị trả giá quá cao cho một trải nghiệm dưới chuẩn. Lúc đó, vấn đề không còn chất lượng dịch vụ đơn thuần, sự đổ vỡ trong tỷ lệ giá trị trên giá.

Ngược lại, nếu khách sạn truyền thông quá thấp, không làm nổi bật giá trị thật, khách hàng sẽ đánh giá thấp sản phẩm trước khi mua. Kết quả khách sạn mất hội bán giá tốt buộc phải cạnh tranh nhiều hơn bằng giá thấp.

Do đó, truyền thông giá hiệu quả phải đạt được sự cân bằng. phải đủ mạnh để nâng giá trị kỳ vọng lên mức thuận lợi cho bán hàng, nhưng vẫn đủ trung thực để trải nghiệm thật thể đáp ứng hoặc vượt qua kỳ vọng đó.

Đây chính nền tảng của một chiến lược giá bền vững. Giá bền vững không được bảo vệ bằng khẩu hiệu, được bảo vệ bằng sự nhất quán giữa lời hứa trải nghiệm.

8. Truyền thông giá phải gắn với đúng phân khúc khách hàng

Một ý rất quan trọng xuyên suốt sách khách sạn phải cung cấp đúng sản phẩm cho đúng khách hàng. Khi áp dụng vào truyền thông giá, điều đó nghĩa giá trị cần được diễn giải theo ngôn ngữ của phân khúc mục tiêu.

Khách công tác thể quan tâm đến vị trí, tốc độ, sự ổn định, kết nối tính thuận tiện. Khách nghỉ dưỡng thể quan tâm đến cảm xúc, không gian, tầm nhìn, sự thư giãn những khoảnh khắc đáng nhớ. Khách gia đình thể quan tâm đến tính an toàn, không gian, sự tiện lợi khả năng gắn kết. Nếu khách sạn truyền thông cùng một gói giá bằng cùng một thông điệp cho mọi nhóm khách, hiệu quả sẽ thấp hơn rất nhiều.

Nói cách khác, giá trị không chỉ nằm bản thân sản phẩm còn mức độ phù hợp giữa sản phẩm đó với nhu cầu của người mua. vậy, truyền thông giá không thể tách rời khỏi phân khúc thị trường. Một mức giá chỉ trở nên thuyết phục khi lợi ích được nhấn mạnh đúng với điều khách hàng mục tiêu quan tâm nhất.

9. Truyền thông giá tốt giúp giảm phụ thuộc vào giảm giá

Khi khách sạn không truyền thông tốt giá trị, giá thường trở thành yếu tố cạnh tranh chính. Trong tình huống đó, doanh nghiệp dễ rơi vào vòng xoáy giảm giá để thu hút đặt phòng. Nhưng giảm giá chỉ giải pháp ngắn hạn. Nếu kéo dài, làm suy yếu vị thế thương hiệu, ăn mòn biên lợi nhuận khiến thị trường quen với việc chờ giá thấp.

Trên nền tảng của chương 10, thể thấy một hướng đi bền vững hơn: tăng cường nhận thức giá trị để giá hiện tại trở nên dễ chấp nhận hơn. Khi khách hàng hiểu họ nhận được gì, tại sao phù hợp với nhu cầu của họ, sao mức giá đó hợp lý, sức ép giảm giá sẽ giảm xuống.

Điều này không nghĩa khách sạn không bao giờ dùng khuyến mãi. Vấn đề khuyến mãi không nên thay thế cho truyền thông giá trị. Nếu không, mọi chiến lược doanh thu sẽ bị kéo về logic “bán bằng giá rẻ”, trong khi bản chất của revenue management bán đúng giá cho đúng khách hàng vào đúng thời điểm với đúng truyền thông.

10. Vai trò của website điểm chạm thông tin trong việc định hình giá trị

Sách đặc biệt nhấn mạnh đến cách thông tin được cung cấp trên website khách sạn. Đây điểm rất đáng lưu ý trong thực tiễn hiện nay. Website, tả trên kênh OTA, email xác nhận, hình ảnh phòng, phần hỏi đáp, điều kiện giá, cách trình bày quyền lợi đi kèm, tất cả đều công cụ định hình nhận thức giá trị.

Nếu website nghèo nàn, hình ảnh thiếu thuyết phục, ngôn ngữ tả hồ, khách hàng sẽ khó hình dung được lợi ích cụ thể. Khi không nhìn thấy giá trị, họ sẽ quay về so sánh giá thuần túy. Điều này làm yếu đi năng lực bán giá của khách sạn.

Ngược lại, khi website thể hiện thuộc tính hữu hình lẫn hình, trình bày mạch lạc lợi ích, giải thích minh bạch điều kiện giá, làm nổi bật trải nghiệm sự phù hợp với nhu cầu từng nhóm khách, giá trị kỳ vọng được xây dựng mạnh hơn. Lúc đó, khách hàng không chỉ thấy “một mức giá”, thấy “một đề nghị do để chọn”.

11. Nhận thức giá trị, sự hài lòng ý định mua lại

Sách chỉ ra rằng cách sản phẩm giá được nhận thức sẽ tác động đến tỷ lệ giá trên giá trị cảm nhận, đến sự hài lòng sau mua đến ý định mua trong tương lai. Đây mắt xích rất quan trọng.

Nếu khách hàng cảm thấy giá trị nhận được tốt so với số tiền bỏ ra, họ hài lòng. Khi hài lòng, khả năng quay lại cao hơn. Khi quay lại, khách sạn thêm doanh thu lặp lại giảm phụ thuộc vào chi phí thu hút khách mới. Hơn nữa, khách hài lòng còn thể tạo hiệu ứng truyền miệng tích cực, từ đó làm tăng giá trị kỳ vọng của những khách hàng tiềm năng khác.

Ngược lại, nếu khách hàng cảm thấy giá trị nhận được thấp hơn mức giá phải trả, sự không hài lòng sẽ không chỉ ảnh hưởng đến một lần mua. tác động đến mối quan hệ lâu dài. Khi đó, vấn đề không còn một giao dịch thất bại một kênh doanh thu tương lai bị suy yếu.

vậy, truyền thông giá không chỉ phục vụ mục tiêu bán hôm nay. còn phải được thiết kế theo hướng bảo toàn sự hài lòng quan hệ lâu dài với khách hàng.

12. Hàm ý quản trị cho khách sạn khi xây dựng chiến lược truyền thông giá

Từ toàn bộ nền tảng của sách, thể rút ra một số định hướng rất rõ.

Thứ nhất, giá luôn phải đi cùng giá trị. Không nên truyền thông giá như một con số đứng độc lập. Mỗi mức giá cần được đặt trong bối cảnh lợi ích, trải nghiệm mức độ phù hợp với nhu cầu khách hàng.

Thứ hai, phải kiểm soát khoảng cách giữa giá trị kỳ vọng giá trị cảm nhận thực tế. Truyền thông quá cao sẽ làm tăng thất vọng. Truyền thông quá yếu sẽ làm giảm khả năng bán giá.

Thứ ba, phải giảm chi phí cảm nhận của khách hàng. Minh bạch thông tin, đơn giản hóa quy trình, làm điều kiện giá trình bày mạch lạc đều cách tăng giá trị ròng.

Thứ tư, phải trình bày giá trị theo logic của phân khúc mục tiêu. Mỗi nhóm khách nhìn giá trị theo một cách khác nhau. Truyền thông giá hiệu quả phải làm nổi bật đúng điều khách hàng mục tiêu quan tâm nhất.

Thứ năm, phải xem website các điểm chạm thông tin công cụ revenue management, không chỉ công cụ marketing. Chúng trực tiếp định hình khả năng chấp nhận giá của khách hàng.

13. Kết luận

Trong quản doanh thu khách sạn, giá không thể được quản trị hiệu quả nếu tách rời khỏi nhận thức giá trị của khách hàng. Khách hàng không đánh giá giá theo nghĩa tuyệt đối, thông qua sự so sánh giữa lợi ích nhận được chi phí phải bỏ ra. vậy, để bán đúng giá, khách sạn trước hết phải làm cho giá trị được nhìn thấy, được hiểu đúng được cảm nhận công bằng.

Nền tảng của sách cho thấy giá trị cần được nhìn bốn lớp: giá trị gộp giá trị ròng, giá trị kỳ vọng giá trị cảm nhận thực tế. Từ đó, thể thấy rằng truyền thông giá không đơn thuần công bố mức giá, quá trình định hình cách khách hàng hiểu mối tương quan giữa giá giá trị. Khi thông tin được trình bày ràng, lợi ích được nhấn mạnh đúng cách, điều kiện giá minh bạch trải nghiệm thực tế tương thích với lời hứa ban đầu, khách hàng sẽ cảm thấy mức giá hợp lý, sự hài lòng sẽ cao hơn ý định quay lại cũng mạnh hơn.

Nói một cách thực chất, truyền thông giá hiệu quả chiếc cầu nối giữa sản phẩm, giá cảm nhận công bằng của khách hàng. Đó cũng do sao trong revenue management hiện đại, đúng truyền thông không phải yếu tố phụ trợ, một điều kiện cốt lõi để bảo vệ giá, duy trì lợi nhuận phát triển quan hệ khách hàng bền vững.