Khách sạn

Quản lý doanh thu #5: Đặc điểm kinh tế của sản phẩm khách sạn

1. sao phải hiểu đặc điểm kinh tế của sản phẩm khách sạn

Trong quản doanh thu khách sạn, giá phòng không thể được quyết định chỉ bằng cảm tính, thói quen hay quan sát bề mặt của thị trường. Muốn hiểu sao khách sạn phải thay đổi giá theo thời điểm, sao cùng một loại phòng nhưng giá bán thể khác nhau giữa các ngày, sao một đêm phòng trống lại tổn thất không thể cứu vãn, trước hết phải quay về bản chất kinh tế của sản phẩm khách sạn.

Sản phẩm khách sạn không giống hàng hóa hữu hình. Một chiếc bàn, một chiếc ghế hay một chai nước nếu chưa bán hôm nay vẫn thể giữ lại để bán ngày mai. Nhưng phòng khách sạn thì khác. Khách sạn không bán một vật thể đơn thuần bán quyền sử dụng không gian lưu trú trong một khoảng thời gian xác định. Chính yếu tố thời gian này khiến sản phẩm khách sạn mang một bản chất kinh tế đặc thù tạo ra nền tảng cho toàn bộ duy quản doanh thu.

Nói cách khác, muốn làm đúng revenue management thì phải hiểu đúng sản phẩm mình đang bán. Nếu không hiểu bản chất kinh tế của phòng khách sạn, mọi chiến lược giá sau đó rất dễ trở thành phản ứng ngắn hạn, thiếu logic không tạo được hiệu quả doanh thu bền vững.

2. Sản phẩm khách sạn một sản phẩm dịch vụ

2.1. Bản chất dịch vụ của sản phẩm khách sạn

Sản phẩm khách sạn trước hết một sản phẩm dịch vụ. Điều này nghĩa giá trị khách hàng mua không chỉ nằm căn phòng vật còn nằm trải nghiệm lưu trú, sự tiện lợi, cảm giác an toàn, mức độ thoải mái toàn bộ quá trình phục vụ đi kèm.

Từ góc nhìn kinh tế học dịch vụ, sản phẩm khách sạn một số đặc trưng quan trọng.

Thứ nhất, đây sản phẩm hình cấp độ giá trị. Khách không chỉ trả tiền cho bốn bức tường, chiếc giường hay phòng tắm, trả tiền cho khả năng nghỉ ngơi, phục hồi năng lượng, thuận tiện di chuyển, hình ảnh thương hiệu cảm nhận nhân trong suốt thời gian lưu trú.

Thứ hai, quá trình sản xuất tiêu dùng diễn ra gần như đồng thời. Phòng khách sạn chỉ thực sự tạo ra giá trị khi khách đến ở. Nếu không khách sử dụng, phòng đó không tạo ra doanh thu.

Thứ ba, chất lượng dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố vận hành con người. Cùng một loại phòng nhưng trải nghiệm của khách thể khác nhau tùy vào tốc độ check in, chất lượng vệ sinh, thái độ nhân viên, tình trạng kỹ thuật hoặc cách xử yêu cầu phát sinh.

Như vậy, sản phẩm khách sạn không phải một hàng hóa chuẩn hóa tuyệt đối. Đó một dịch vụ yếu tố vật chất, yếu tố vận hành yếu tố cảm nhận. Chính thế, quản doanh thu trong khách sạn không thể tách rời quản trị sản phẩm quản trị trải nghiệm.

2.2. Khách sạn bán không gian hay bán thời gian sử dụng không gian

Một sai lầm phổ biến cho rằng khách sạn bán phòng. Thực ra, góc độ kinh tế, khách sạn bán quyền sử dụng phòng trong một khoảng thời gian cụ thể. Điểm này rất quan trọng.

Một phòng tiêu chuẩn không phải chỉ một tài sản vật lý. một đơn vị công suất thời hạn. Khi khách đặt một phòng cho một đêm, điều khách mua quyền sử dụng không gian đó trong đúng khoảng thời gian đó. Hết thời gian, quyền sử dụng kết thúc, khách sạn lại thể bán tiếp cho một khách khác trong chu kỳ tiếp theo.

Chính sản phẩm được gắn với thời gian nên mọi quyết định về giá, phân phối công suất trong khách sạn đều quyết định về cách bán thời gian sử dụng tài sản. Đây do sao quản doanh thu luôn gắn chặt với yếu tố thời điểm nhu cầu theo thời gian.

3. Tính không thể lưu kho của sản phẩm khách sạn

3.1. Đặc điểm không thể lưu kho

Đây đặc điểm kinh tế quan trọng nhất của sản phẩm khách sạn. Một đêm phòng nếu không bán được trong hôm nay thì không thể cất vào kho để bán vào ngày mai. Doanh thu của khoảng thời gian đó mất đi vĩnh viễn.

Khác với hàng hóa vật lý, khách sạn không khả năng bảo quản công suất chưa sử dụng. Mỗi ngày trôi qua một đơn vị công suất hết hạn. Một phòng trống tối nay không phải tồn kho, hội doanh thu đã biến mất.

3.2. Hệ quả kinh tế của tính không thể lưu kho

Hệ quả đầu tiên khách sạn phải tối ưu doanh thu theo từng ngày, thậm chí theo từng khoảng thời gian đặt phòng. Không thể duy “hôm nay ế thì mai bán bù”. Trong khách sạn, doanh thu mất đi của hôm nay gần như không thể phục hồi nguyên trạng.

Hệ quả thứ hai chi phí hội của phòng trống rất lớn. Khi một phòng không khách, khách sạn không chỉ mất khoản doanh thu trực tiếp từ tiền phòng còn thể mất cả doanh thu phụ trợ từ các dịch vụ khác khách thể sử dụng.

Hệ quả thứ ba khách sạn buộc phải theo dõi sát nhu cầu thị trường điều chỉnh giá linh hoạt. Nếu giữ giá quá cao trong giai đoạn nhu cầu yếu, nguy phòng trống tăng lên. Nếu giữ giá quá thấp trong giai đoạn nhu cầu mạnh, khách sạn thể bán hết phòng nhưng đánh mất hội tối đa hóa doanh thu.

3.3. Ý nghĩa đối với quản doanh thu

Tính không thể lưu kho chính một trong những nền tảng lớn nhất khiến revenue management trở nên cần thiết. Quản doanh thu tồn tại để giải quyết bài toán: làm sao giảm thiểu số lượng công suất bị mất đi ích làm sao tận dụng tối đa giá trị kinh tế của từng đêm phòng.

Nói ngắn gọn, nếu sản phẩm khách sạn thể lưu kho như hàng hóa thông thường, revenue management sẽ không vai trò lớn như hiện nay. Chính không thể lưu kho nên khách sạn buộc phải quản trị giá nhu cầu với độ chính xác cao hơn rất nhiều.

4. Công suất phòng hữu hạn cố định trong ngắn hạn

4.1. Công suất phòng nguồn lực hữu hạn

Khách sạn chỉ một số lượng phòng nhất định. Một khách sạn 100 phòng thì trong một đêm, công suất tối đa về thuyết 100 đêm phòng. nhu cầu thị trường tăng cao đến đâu, khách sạn cũng không thể bán 120 phòng nếu thực tế chỉ 100 phòng.

Điều này khiến phòng trở thành một nguồn lực khan hiếm. Khi nguồn lực giới hạn, việc phân bổ cho ai, vào lúc nào với mức giá nào sẽ trở thành quyết định chiến lược.

4.2. Công suất cố định trong ngắn hạn

Về dài hạn, khách sạn thể cải tạo, mở rộng, xây thêm khu phòng hoặc chuyển đổi công năng. Nhưng trong ngắn hạn, công suất gần như cố định. Khách sạn không thể tăng ngay số phòng chỉ cuối tuần sự kiện lớn hoặc dịp lễ đang đến gần.

Chính công suất cố định trong ngắn hạn, giá trở thành công cụ điều tiết nhu cầu. Khi không thể mở rộng cung ngay lập tức, khách sạn phải dùng chính sách giá điều kiện bán để kiểm soát lượng cầu đi vào hệ thống.

4.3. Công suất không chỉ số phòng

góc độ sâu hơn, công suất khách sạn không chỉ nằm số phòng. Một khách sạn còn giới hạn về năng lực phục vụ đi kèm như bộ phận buồng, lễ tân, bãi đỗ xe, nhà hàng, khu hội nghị hoặc tiện ích khác. Tuy nhiên, trong phần nền tảng này, công suất phòng vẫn trung tâm đó nguồn doanh thu cốt lõi nhất của khách sạn.

5. Nhu cầu lưu trú luôn biến động

5.1. Nhu cầu không ổn định theo thời gian

Một đặc điểm kinh tế quan trọng khác của sản phẩm khách sạn nhu cầu không ổn định. Nhu cầu phòng hiếm khi bằng nhau qua các ngày, các tuần hay các mùa trong năm.

khách sạn tăng mạnh vào mùa hè, giảm sâu vào mùa thấp điểm. khách sạn mạnh vào ngày làm việc nhưng yếu vào cuối tuần. khách sạn tăng công suất khi địa phương hội chợ, triển lãm hoặc sự kiện lớn.

Điều này cho thấy sản phẩm khách sạn luôn chịu tác động bởi nhịp cầu không đồng đều theo thời gian.

5.2. Biến động nhu cầu tạo áp lực lên chiến lược giá

Nếu nhu cầu lúc nào cũng ổn định, khách sạn thể giữ một mức giá tương đối cố định ít cần đến các chiến lược revenue management phức tạp. Nhưng nhu cầu dao động, khách sạn phải liên tục điều chỉnh cách bán để phù hợp với điều kiện thị trường.

Trong giai đoạn nhu cầu cao, khách sạn cần bảo vệ giá tối ưu doanh thu trên mỗi phòng. Trong giai đoạn nhu cầu thấp, khách sạn cần tìm cách kích cầu không phá vỡ cấu trúc giá một cách thiếu kiểm soát.

5.3. Mối liên hệ giữa biến động nhu cầu tính không thể lưu kho

Hai yếu tố này kết hợp với nhau tạo nên áp lực kinh tế đặc biệt của ngành khách sạn. Nếu cầu biến động nhưng sản phẩm thể lưu kho, doanh nghiệp vẫn còn cách cân bằng. Nhưng trong khách sạn, cầu đã biến động lại còn đi kèm sản phẩm không thể lưu kho. vậy, năng lực dự báo điều chỉnh giá trở thành yếu tố sống còn.

6. Sản phẩm khách sạn khả năng phân khúc

6.1. Không phải mọi khách đều nhìn thấy cùng một giá trị

Một phòng khách sạn thể được nhiều nhóm khách hàng khác nhau nhìn nhận với các mức giá trị khác nhau. Khách doanh nghiệp thể sẵn sàng trả giá cao hơn để gần trung tâm linh hoạt thời gian. Khách du lịch thể quan tâm nhiều hơn đến giá tổng thể tiện ích giải trí. Khách đoàn tiêu chí khác khách lẻ. Khách đặt sớm hành vi khác khách đặt sát ngày.

Điều này cho thấy nhu cầu thị trường không đồng nhất. Chính sự không đồng nhất đó tạo điều kiện cho khách sạn phân khúc xây dựng các mức giá khác nhau.

6.2. Phân khúc nền tảng của quản doanh thu

Revenue management không thể vận hành nếu tất cả khách hàng đều giống nhau, cùng mức sẵn sàng chi trả cùng hành vi đặt phòng. Khách sạn cần khả năng nhận diện những nhóm khách khác nhau bán cho từng nhóm theo cách phù hợp.

cấp độ sản phẩm, khách sạn cũng thể phân tầng thành nhiều loại phòng, nhiều gói dịch vụ hoặc nhiều điều kiện đặt phòng khác nhau. Điều này cho phép khách sạn vừa phục vụ nhiều phân khúc, vừa tối ưu hóa mức giá trên cùng một tài sản sở.

7. Sản phẩm khách sạn chịu ảnh hưởng mạnh của cảm nhận giá trị

7.1. Giá không tách rời giá trị cảm nhận

Trong khách sạn, mức giá khách chấp nhận trả không chỉ phụ thuộc vào chi phí hay vào bản thân căn phòng, còn phụ thuộc vào cách khách cảm nhận giá trị. Cùng một mức giá, khách thấy hợp lý, khách thấy cao, khách lại thấy xứng đáng nếu trải nghiệm phù hợp.

Điều này làm cho sản phẩm khách sạn mang tính cảm nhận rất cao. Giá trị không nằm hoàn toàn tài sản vật nằm sự kết hợp giữa vị trí, thương hiệu, dịch vụ, sự tiện lợi kỳ vọng của khách.

7.2. Ý nghĩa đối với chiến lược doanh thu

Từ góc độ revenue management, điều này nghĩa khách sạn không chỉ quản giá còn phải quản cách giá được cảm nhận. Một mức giá muốn được chấp nhận phải gắn với sản phẩm đúng, phân khúc đúng bối cảnh tiêu dùng đúng.

thế, trong khách sạn, giá không thể tách rời sản phẩm. Nói chính xác hơn, khách sạn không bán giá rẻ hay giá cao một cách tuyệt đối, bán một mức giá tương thích với giá trị từng nhóm khách nhìn thấy.

8. sao những đặc điểm này tạo ra nền tảng cho quản doanh thu

Khi tập hợp tất cả các yếu tố đã phân tích, thể thấy sản phẩm khách sạn hội tụ đầy đủ những điều kiện kinh tế điển hình để áp dụng revenue management.

Thứ nhất, công suất hữu hạn cố định trong ngắn hạn khiến khách sạn không thể tăng cung tức thời.

Thứ hai, sản phẩm không thể lưu kho làm cho mỗi đêm phòng trống trở thành một tổn thất không thể đảo ngược.

Thứ ba, nhu cầu biến động theo thời gian khiến khách sạn không thể dùng một chiến lược giá bất biến.

Thứ tư, thị trường thể phân khúc, các nhóm khách mức sẵn sàng chi trả khác nhau.

Thứ năm, sản phẩm khách sạn chịu tác động mạnh từ cảm nhận giá trị, tạo điều kiện cho các chiến lược định giá khác biệt theo phân khúc, thời điểm điều kiện bán.

Đây chính do khách sạn trở thành một trong những ngành áp dụng quản doanh thu hiệu quả nhất.

9. Kết luận

Đặc điểm kinh tế của sản phẩm khách sạn điểm xuất phát bắt buộc để hiểu đúng revenue management. Khách sạn không bán một hàng hóa lưu kho được, bán quyền sử dụng công suất phòng trong một khoảng thời gian xác định. Công suất này hữu hạn, không thể mở rộng ngay trong ngắn hạn nếu không bán được thì doanh thu mất đi vĩnh viễn.

Trong khi đó, nhu cầu lưu trú lại luôn biến động, thị trường thể phân khúc giá trị cảm nhận của khách hàng không đồng nhất. Chính sự kết hợp giữa công suất hữu hạn, sản phẩm không thể lưu kho, nhu cầu biến động khả năng phân khúc đã tạo nên nền tảng kinh tế cho quản doanh thu khách sạn.

Hiểu đúng những đặc điểm này sẽ giúp người làm khách sạn không nhìn giá phòng như một con số tĩnh, nhìn như một công cụ chiến lược để điều tiết nhu cầu, tối ưu công suất nâng cao hiệu quả tài chính của toàn khách sạn. Đây cũng nền móng để bước sang các bài tiếp theo, nơi chúng ta đi sâu hơn vào công suất phòng, cấu trúc chi phí mối quan hệ giữa doanh thu biên với chi phí biên trong quản doanh thu khách sạn.