Khách sạn

Quản lý doanh thu #9: Biến động nhu cầu du lịch

1. sao biến động nhu cầu nền tảng của quản doanh thu

Trong quản doanh thu khách sạn, một trong những tiền đề quan trọng nhất nhu cầu thị trường không ổn định. Nếu ngày nào khách sạn cũng nhận được số lượng đặt phòng gần như tương đương nhau, nếu tỷ lệ lấp phòng luôn giữ một ngưỡng ổn định nếu hành vi đặt phòng không thay đổi đáng kể theo thời gian, thì áp lực quản trị giá công suất sẽ giảm đi rất nhiều. Khi đó, khách sạn thể vận hành với một cấu trúc giá tương đối ổn định, ít cần những kỹ thuật điều chỉnh giá linh hoạt hay kiểm soát công suất phức tạp.

Chính nhu cầu lưu trú không diễn ra theo một đường thẳng đều đặn thay đổi theo ngày, theo tuần, theo mùa theo sự kiện, revenue management mới trở thành một hệ thống quản trị cần thiết. Nói cách khác, quản doanh thu không sinh ra để xử một thị trường tĩnh, để giải bài toán của một thị trường động, nơi nhu cầu luôn dao động không chắc chắn.

Từ góc độ kinh tế học, biến động nhu cầu tạo ra hai sức ép lớn đối với khách sạn. Thứ nhất, khi nhu cầu yếu, nguy phòng trống tăng lên doanh thu bị mất vĩnh viễn do sản phẩm khách sạn không thể lưu kho. Thứ hai, khi nhu cầu mạnh, nếu khách sạn không điều chỉnh giá phân bổ công suất hợp lý, họ thể bán hết phòng nhưng vẫn bỏ lỡ hội tối đa hóa doanh thu. vậy, muốn hiểu revenue management vận hành như thế nào, trước hết phải hiểu nhu cầu du lịch biến động ra sao sự biến động đó tác động thế nào đến chiến lược kinh doanh của khách sạn.

2. Bản chất của nhu cầu du lịch trong khách sạn

2.1. Nhu cầu lưu trú không phải một đại lượng cố định

Nhu cầu lưu trú trong khách sạn không phải một con số bất biến. thay đổi theo từng giai đoạn, từng phân khúc khách từng bối cảnh thị trường. Một khách sạn thể rất đông khách vào các ngày làm việc nhưng vắng vào cuối tuần. Một khách sạn nghỉ dưỡng thể bùng nổ công suất vào mùa nhưng giảm mạnh vào mùa thấp điểm. Một khách sạn trung tâm hội nghị thể tăng giá đáng kể khi địa phương diễn ra sự kiện lớn, nhưng lại gặp khó vào những tháng thị trường trầm lắng.

Sự biến động này đặc điểm kinh tế hết sức tự nhiên của ngành khách sạn. Khách không phát sinh nhu cầu lưu trú theo một hình đều đặn như nhu cầu sử dụng một số hàng hóa thiết yếu. Nhu cầu của họ chịu ảnh hưởng bởi mục đích chuyến đi, lịch nghỉ, thời điểm công việc, điều kiện thời tiết, khả năng chi trả, kế hoạch gia đình, sự kiện điểm đến cả những yếu tố bất ngờ doanh nghiệp không kiểm soát được hoàn toàn.

2.2. Nhu cầu trong khách sạn gắn chặt với thời gian

Điểm đặc biệt của nhu cầu lưu trú không chỉ phản ánh việc khách cần phòng hay không, còn phản ánh việc khách cần phòng vào đúng thời điểm nào. Một phòng thể rất dễ bán vào tối thứ bảy nhưng khó bán vào tối thứ ba. Một đêm phòng trong dịp lễ thể giá trị kinh tế rất cao, trong khi cùng căn phòng đó mùa thấp điểm lại phải kích cầu mới bán được.

Điều này làm cho nhu cầu du lịch không chỉ biến động về lượng còn biến động về giá trị kinh tế. Với revenue management, đây yếu tố cốt lõi, bởi khách sạn không đơn thuần quan tâm đến số lượng khách, quan tâm đến việc mỗi đơn vị nhu cầu xuất hiện khi nào, thuộc phân khúc nào thể chuyển hóa thành mức doanh thu bao nhiêu.

3. Các dạng biến động nhu cầu điển hình trong khách sạn

3.1. Biến động theo ngày trong tuần

Một trong những dạng biến động dễ quan sát nhất biến động theo ngày trong tuần. Đối với khách sạn thương mại, cầu thường cao hơn vào các ngày làm việc do nhu cầu từ khách doanh nghiệp, khách công vụ khách đi họp. Ngược lại, cuối tuần thể giai đoạn yếu hơn. Đối với khách sạn nghỉ dưỡng, hình này thường đảo chiều. Cuối tuần các kỳ nghỉ ngắn lại thời điểm nhu cầu mạnh hơn do khách du lịch giải trí gia tăng.

Điểm quan trọng đây nhu cầu không chỉ biến động giữa tháng này với tháng khác còn biến động rất ngay trong nội bộ một tuần. Nếu khách sạn không nhận diện đúng hình này, họ thể dùng một chiến lược giá thiếu linh hoạt bỏ lỡ doanh thu. dụ, giữ cùng một mức giá cho cả ngày giữa tuần cuối tuần trong một khách sạn nghỉ dưỡng sẽ làm mất khả năng khai thác tối ưu mức cầu khác nhau.

3.2. Biến động theo mùa

Biến động theo mùa đặc điểm gần như phổ quát của ngành du lịch khách sạn. Mùa cao điểm thường gắn với điều kiện thời tiết thuận lợi, kỳ nghỉ của thị trường nguồn hoặc chu kỳ du lịch quen thuộc của điểm đến. Ngược lại, mùa thấp điểm thường gắn với thời tiết kém hấp dẫn hơn, nhu cầu đi lại giảm hoặc ít hoạt động sự kiện hơn.

Tính mùa vụ làm cho công suất phòng khả năng định giá thay đổi rất mạnh theo từng giai đoạn trong năm. Một khách sạn biển thể đạt giá phòng cao công suất mạnh vào mùa nhưng phải giảm giá đáng kể khi vào mùa mưa. Một khách sạn thành phố thể hưởng lợi lớn từ mùa hội chợ, mùa hội nghị hoặc mùa cao điểm thương mại nhưng yếu đi trong các tháng thấp điểm.

góc độ revenue management, mùa vụ một trong những nguyên nhân chính khiến khách sạn không thể giữ giá cố định cả năm. Giá phải phản ánh mức cầu, mức cầu luôn thay đổi theo mùa.

3.3. Biến động theo sự kiện

Nhiều thị trường khách sạn chứng kiến những đợt tăng cầu đột biến do sự kiện. Đó thể hội chợ, triển lãm, giải thể thao, chương trình âm nhạc lớn, lễ hội văn hóa hoặc các dịp nghỉ dài ngày. Trong những thời điểm này, công suất thể tăng rất nhanh khách hàng thường chấp nhận mức giá cao hơn.

Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ nhận ra rằng sự kiện làm cầu tăng, phải hiểu rằng các đợt tăng cầu này thường mang tính thời điểm, cục bộ đôi khi khó lặp lại theo hình ổn định. Điều đó đòi hỏi khách sạn phải năng lực theo dõi thị trường liên tục phản ứng nhanh với tín hiệu cầu.

3.4. Biến động theo loại hình khách sạn

Không phải khách sạn nào cũng cùng một hình biến động cầu. Một khách sạn nghỉ dưỡng, một khách sạn thương mại một khách sạn gần sân bay sẽ nhịp cầu khác nhau. vậy, revenue management không thể được áp dụng máy móc. Mỗi khách sạn phải hiểu quy luật cầu riêng của mình.

Điều này ý nghĩa rất lớn về mặt quản trị. Nhiều khách sạn thất bại trong việc tối ưu doanh thu không phải thiếu dữ liệu, dùng hình cầu của thị trường khác để áp vào thực tế của mình.

4. Demand uncertainty: tính bất định của nhu cầu

4.1. Biến động bất định không hoàn toàn giống nhau

Biến động nhu cầu việc cầu thay đổi theo thời gian. Bất định nhu cầu việc khách sạn không thể biết chắc chính xác sẽ bán được bao nhiêu phòng trong tương lai. Đây hai khái niệm liên quan nhưng không đồng nhất.

dụ, một khách sạn thể biết tháng bảy thường mùa cao điểm, nhưng vẫn không thể biết chính xác ngày 15 tháng bảy sẽ bán được 92 phòng hay 97 phòng. Khách thể thay đổi kế hoạch, hủy phòng, đặt sát ngày hoặc dồn nhu cầu vào phút chót. Chính phần không chắc chắn này tạo ra nhu cầu phải dự báo.

4.2. sao bất định nhu cầu làm revenue management trở nên cần thiết

Nếu khách sạn biết chính xác tuyệt đối lượng cầu tương lai, việc định giá phân bổ công suất sẽ đơn giản hơn nhiều. Nhưng trong thực tế, cầu luôn sai số. Các quyết định giá vậy luôn phải dựa trên xác suất, hình lịch sử tín hiệu thị trường, chứ không phải trên sự chắc chắn tuyệt đối.

Tính bất định của nhu cầu làm phát sinh những bài toán quản trị như:

Khách sạn nên giữ lại một phần công suất cho khách đặt sát ngày hay bán sớm cho khách giá thấp.

Khách sạn nên tăng giá ngay hay chờ tín hiệu cầu hơn.

Khách sạn nên chấp nhận một nhóm khách đoàn với giá thấp hơn hay hy vọng thị trường sẽ xuất hiện khách lẻ giá cao hơn.

Những câu hỏi này đều hệ quả của việc cầu không chỉ biến động còn không chắc chắn.

5. Mối quan hệ giữa biến động nhu cầu chiến lược doanh thu

5.1. Khi nhu cầu cao

Trong giai đoạn nhu cầu cao, khách sạn nhiều hội hơn để nâng giá chọn lọc phân khúc khách. Nhưng hội chỉ chuyển thành doanh thu nếu khách sạn nhận diện đúng thời điểm tăng cầu phản ứng đủ nhanh. Nếu tăng giá quá chậm, khách sạn thể bán hết phòng nhưng với mức giá chưa tối ưu. Nếu tăng giá quá sớm hoặc quá mạnh trong khi cầu chưa đủ chắc, công suất thể bị ảnh hưởng.

Revenue management giúp khách sạn điều chỉnh chiến lược bán trong những giai đoạn này. Mục tiêu không chỉ lấp đầy phòng, lấp đầy phòng với chất lượng doanh thu tốt nhất.

5.2. Khi nhu cầu thấp

Trong giai đoạn nhu cầu thấp, bài toán lại khác. Khách sạn phải đối mặt với nguy phòng trống, trong khi chi phí cố định vẫn tồn tại. Khi đó, chiến lược doanh thu thường tập trung vào việc kích cầu hợp lý, điều chỉnh giá kiểm soát, mở rộng hoặc tối ưu kênh phân phối lựa chọn phân khúc khả năng chuyển đổi tốt hơn.

Điểm quan trọng khách sạn không nên xem mọi giai đoạn cầu yếu đều giống nhau. giai đoạn nhu cầu yếu nhưng vẫn thể phục hồi bằng kích cầu ngắn hạn. giai đoạn cầu yếu mang tính cấu trúc hơn, đòi hỏi điều chỉnh chiến lược sâu hơn. Hiểu đúng bản chất của từng giai đoạn nền tảng để ra quyết định đúng.

6. sao nhu cầu biến động làm giá không thể cố định

Một trong những sai lầm phổ biến trong kinh doanh khách sạn xem giá như một mức cố định quanh năm chỉ thay đổi trong các dịp rất đặc biệt. Cách tiếp cận này đi ngược với logic kinh tế của revenue management.

Nếu cầu thay đổi giá không thay đổi, khách sạn sẽ gặp hai rủi ro. Trong giai đoạn cầu mạnh, giá quá thấp sẽ làm thất thoát doanh thu tiềm năng. Trong giai đoạn cầu yếu, giá quá cao sẽ làm gia tăng phòng trống. Như vậy, giá cố định trong một thị trường cầu biến động thường dẫn đến kết quả kém tối ưu cả hai đầu.

Revenue management không mặc định rằng giá phải thay đổi liên tục theo cách cực đoan, nhưng khẳng định rằng giá phải khả năng phản ánh mức cầu. Đó bản chất kinh tế của định giá trong khách sạn.

7. Dự báo nhu cầu như chiếc cầu nối giữa thuyết hành động

7.1. Khả năng dự báo điều kiện nền tảng

Một trong những điều kiện quan trọng để revenue management tồn tại nhu cầu thể được dự báo trong một mức sai số chấp nhận được. Nếu nhu cầu hoàn toàn hỗn loạn không bất kỳ quy luật nào để nhận diện, khách sạn sẽ rất khó xây dựng chiến lược giá tối ưu.

Dự báo không nghĩa biết chắc tương lai. Dự báo quá trình ước lượng xu hướng cầu dựa trên dữ liệu lịch sử, tín hiệu đặt phòng, hình mùa vụ thông tin thị trường. Trong revenue management, dự báo cầu nối giữa biến động nhu cầu hành động quản trị.

7.2. Dự báo giúp khách sạn làm

Khi khả năng dự báo, khách sạn thể:

Xác định giai đoạn nào nên bảo vệ giá.

Xác định giai đoạn nào cần kích cầu.

Nhận biết sớm tín hiệu thị trường mạnh hoặc yếu hơn bình thường.

Chuẩn bị chiến lược phân phối phân khúc phù hợp với công suất phòng.

Nói cách khác, dự báo giúp khách sạn chuyển từ trạng thái phản ứng bị động sang trạng thái chủ động điều tiết doanh thu.

8. Ý nghĩa quản trị của bài học về biến động nhu cầu

Biến động nhu cầu du lịch không chỉ một quan sát tả thị trường, nền tảng duy cho toàn bộ hệ thống revenue management. Khi hiểu đúng quy luật cầu, khách sạn sẽ hiểu sao cần nhiều mức giá, sao phải theo dõi nhịp đặt phòng, sao không thể dùng một chiến lược bán hàng đồng nhất cho mọi thời điểm sao dự báo công cụ sống còn của người làm doanh thu.

Về bản chất, revenue management không phải nghệ thuật tăng giá. nghệ thuật đọc đúng nhịp cầu thị trường phản ứng một cách kỷ luật trước nhịp cầu đó.

9. Kết luận

Biến động nhu cầu du lịch một trong những nền tảng kinh tế cốt lõi của quản doanh thu khách sạn. Nhu cầu lưu trú luôn thay đổi theo thời gian, theo mùa, theo ngày trong tuần, theo sự kiện theo từng loại hình khách sạn. Không chỉ biến động, nhu cầu còn mang tính bất định, khiến khách sạn không thể biết chắc hoàn toàn lượng cầu tương lai.

Chính sự biến động bất định đó khiến khách sạn cần đến revenue management như một hệ thống quản trị để điều chỉnh giá, kiểm soát công suất tối ưu doanh thu. Hiểu đúng quy luật cầu không chỉ giúp khách sạn ra quyết định tốt hơn về giá phòng, còn đặt nền móng cho các nội dung quan trọng tiếp theo như độ co giãn giá, mức sẵn sàng chi trả hành vi đặt phòng sớm của khách hàng.